Trong nhiều vụ án liên quan đến trách nhiệm quản lý, Điều 360 Bộ luật Hình sự thường được viện dẫn như căn cứ xử lý phổ biến. Tuy nhiên, không ít trường hợp điều luật này bị áp dụng một cách giản lược, chỉ dựa vào hậu quả mà bỏ qua cấu trúc pháp lý bắt buộc của một tội phạm.
Thực tế, không phải cứ có hậu quả là có tội. Để một hành vi bị coi là “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 360 BLHS, pháp luật yêu cầu phải đồng thời thỏa mãn 4 điều kiện bắt buộc dưới đây.

Luật sư Trương Anh Tú - Chủ tịch TAT Law Firm
1. Chủ thể có nghĩa vụ pháp lý rõ ràng
Điều 360 chỉ áp dụng đối với người được giao trách nhiệm quản lý cụ thể theo quy định pháp luật, quyết định hợp pháp hoặc quy chế có hiệu lực.
Điểm mấu chốt là:
- Nghĩa vụ phải có địa chỉ pháp lý rõ ràng;
- Không thể suy đoán nghĩa vụ từ chức danh, vị trí hay vai trò chung;
- Không thể lấy “trách nhiệm đạo đức” để thay thế nghĩa vụ pháp lý.
Nếu nghĩa vụ không được xác lập rõ ràng, việc truy cứu trách nhiệm hình sự là không có căn cứ.
2. Có hành vi vi phạm nghĩa vụ (làm sai hoặc không làm)
Hành vi trong Điều 360 có thể là:
- Làm sai nghĩa vụ phải thực hiện; hoặc
- Không làm (bất tác vi) trong khi có nghĩa vụ và khả năng hành động.
Tuy nhiên, cần phân biệt: Không làm khác với thiếu trách nhiệm hình sự.
Chỉ khi người đó:
- Có nghĩa vụ phải hành động;
- Có khả năng thực tế để hành động;
- Và vẫn không hành động; thì bất tác vi mới có ý nghĩa hình sự.
3. Hậu quả nghiêm trọng phải thực sự xảy ra
Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của Điều 360. Nhưng hậu quả không tự động làm phát sinh trách nhiệm hình sự nếu thiếu các điều kiện khác.
Hậu quả phải:
- Là thiệt hại thực tế, đã hình thành;
- Được xác định bằng căn cứ pháp lý hợp lệ;
- Không phải là thiệt hại suy đoán hoặc hậu quả gián tiếp.
4. Có quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi và hậu quả
Đây là điều kiện quan trọng nhất và cũng thường bị bỏ qua nhất.
Phải chứng minh rằng:
- Chính hành vi thiếu trách nhiệm đó;
- Là nguyên nhân trực tiếp, không thể thay thế;
- Dẫn đến hậu quả đã xảy ra.
Nếu hậu quả là kết quả của:
- Cơ chế quản lý nhiều tầng;
- Quyết định tập thể;
- Yếu tố khách quan; thì việc quy trách nhiệm hình sự cho một cá nhân là không phù hợp với bản chất của luật hình sự.
Điều 360 BLHS có áp dụng được không?
Trước khi đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự, cần trả lời 4 câu hỏi:
- Có nghĩa vụ pháp lý rõ ràng không?
- Có hành vi vi phạm nghĩa vụ không?
- Hậu quả nghiêm trọng đã thực sự xảy ra chưa?
- Có quan hệ nhân quả trực tiếp không?
Thiếu 1 trong 4 → không cấu thành tội phạm.
Vì sao không thể áp dụng Điều 360 một cách cơ học?
Khi Điều 360 bị dùng như công cụ xử lý mọi sai sót quản lý, hệ quả là:
- Người quản lý sợ trách nhiệm hơn sợ quyết định sai;
- Quyết định trở nên phòng thủ và hình thức;
- Quản lý bị tê liệt trong chính bộ máy của mình.
Luật hình sự chỉ mạnh khi nó được dùng đúng chỗ. Khi bị lạm dụng, nó làm suy yếu cả quản trị lẫn niềm tin pháp luật.
Hiểu đúng Điều 360 là để giữ ranh giới, không phải để né trách nhiệm. Giữ đúng cấu trúc pháp lý của Điều 360 không nhằm bảo vệ sai sót quản lý, mà để bảo vệ ranh giới giữa quản lý và hình sự. Khi ranh giới đó bị xóa nhòa, người làm đúng cũng có thể bị xử lý, còn hệ thống thì mất đi khả năng tự điều chỉnh bằng các công cụ phi hình sự.
Nội dung và phương pháp phân tích trong bài viết này được xây dựng từ thực tiễn hành nghề, hồ sơ và chuẩn đánh giá pháp lý riêng của TAT Law Firm, mọi việc sao chép, trích dẫn hoặc vận dụng tách rời khỏi cấu trúc nghĩa vụ - khả năng - nhân quả của từng vụ việc đều có nguy cơ dẫn đến những suy luận sai lệch về trách nhiệm hình sự.
Tham khảo thêm các bài viết:
Sai sót quản lý và ranh giới hình sự - Nguyên tắc tối thiểu Điều 360 BLHS
Bất tác vi trong quản lý: Khi “không làm” có thể bị coi là hành vi phạm tội?
Liên hệ tư vấn: Hà Nội | TP. Hồ Chí Minh
Hotline: 0848.009.668
Fanpage: https://www.facebook.com/tatlawfirm
Email: truonganhtulawfirm@gmail.com